Thursday, July 11, 2013

Mẹo vặt: Thức ăn cho người bị gãy xương

Gãy xương là tình trạng bệnh lý chấn thương thường gặp, có thể do một lực tác dụng mạnh hay một tổn thương không đáng kể kết hợp với các bệnh làm yếu cấu trúc xương. Gãy xương nếu không được điều trị, luyện tập đúng cách sẽ rất lâu khỏi và để lại dị tật sau này.


Ngoài ra, một biện pháp rất độc đáo và hiệu quả là vận dụng các món ăn giúp điều trị hỗ trợ.
Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong muốn, thân nhân người bệnh cần chế biến đúng phương pháp và kiên trì sử dụng các món ăn đơn giản, dễ dùng sau đây.


- Bài 1: 50 g cua rửa sạch, sao khô, tán bột, uống 2 lần/ngày, mỗi lần từ 9-12 g. Nếu dùng một chút rượu nhẹ độ uống chung càng tốt. Bài thuốc này dùng cho người gãy xương giai đoạn đầu, chỗ sưng đau bị phù nề, thâm tím.

- Bài 2: 100 g xương sườn heo hầm nhừ, gạt bỏ váng mỡ rồi cho 150 g bí đao gọt vỏ, cắt khúc nấu đến khi chín thì nêm hành và gia vị vào, ăn như canh. Món ăn này thích hợp cho người bị gãy xương mà chỗ gãy sưng nề nhiều.

- Bài 3: Vỏ trứng gà rửa sạch, sấy khô, tán bột, uống 2 lần/ngày, mỗi lần 3 g. Có thể dùng bài thuốc này cho cả quá trình điều trị nhằm mục đích thúc đẩy quá trình liền xương.

- Bài 4: 250 g cá diếc làm sạch; cho tất cả gia vị gồm 3 lát gừng tươi, 2 củ hành, 7 hạt tiêu vào trong bụng cá rồi hầm nhừ. Người bệnh dùng vài lần trong ngày; thích hợp cho người gãy xương đã qua giai đoạn muộn, vùng da ngoài chỗ gãy đã bớt sưng nề nhưng hoạt động còn khó khăn.

- Bài 5: Làm thịt 1 con gà trống đen nặng chừng 500 g, cho 5 g tam thất đã thái mỏng vào trong bụng gà cùng với một chút rượu nguyên chất, hầm cách thủy.

Người bệnh nên ăn trong ngày để bồi bổ, làm mạnh cơ bắp, giúp xương liền nhanh.

Nguồn: Sưu tầm

Wednesday, July 10, 2013

Loại rau quả tốt cho người bị bệnh gan

Bệnh gan là mọt trong những căn bệnh nguy hiểm đối với con người mà nguyên nhân chủ yếu là do bia rượu....Nếu không được ngăn ngừa và chữa trị kịp thời nó có thể trở thành ung thư và gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.
Để phòng tránh bệnh gan cũng như hồi phục sức khỏe đối với bệnh nhân bị bệnh gan ta cần chú ý đến việc dùng thuốc đều đặn kèm theo một chế độ ăn uống khoa học. Và rau xanh luôn là sự lựa chọn hàng đầu trong bữa ăn hàng ngày của người bệnh gan.

 Trong rau xanh không chỉ giàu vitamin mà còn chứa đại lượng chất xơ, muối vô cơ… những chất này là những thành phần dinh dưỡng không thể thiếu cho những người bệnh gan trong quá trình phục hồi sức khỏe, đặc biệt là những loại rau quả sau.



1) Tỏi

Tỏi tính chát, ấm, vị cay, là loại củ người bị bệnh gan chuyên dùng. Tỏi chứa vitamin V, vitamin B, vitamin C vv, chất chiết xuất từ có tác dụng chống khuẩn, chống vi rút, mềm hóa huyết quản vv.

toi
Tỏi
2) Rau muống

Rau muống tính ngọt, bình, chứa protit, chất béo, muối vô cơ, carotene, niacin… có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, mát máu vv.

rau muong
Rau muống
3) Nấm

Nấm có nhiều chủng loại như nấm kim châm, nấm hương, nấm sò, bao gồm cả mộc nhĩ vv. Nấm có tính bình, vị ngọt, chứa nhiều loại đường, nhiều loại vitamin, chất đạm, chất béo và muối vô cơ. Thực nghiệm chứng minh nhiều loại chất trong nấm có tác dụng điều tiết miễn dịch, kháng u, ung thư, người bệnh gan nên thường xuyên ăn.

nam
Nấm

4) Hạt sen

hạt sen
Hat sen
Hạt sen tính bình, vị ngọt, hàm chứa protein, chất béo, có tác dụng ích khí bổ trung, lợi phổi chặn ho, đồng thời giúp an thần. Thường xuyên ăn hạt sen giúp còn giúp phòng tránh và chữa trị gan xơ cứng.

5) Cà rốt

ca rot
Cà rốt
Cà rốt tính hơi ấm, vị ngọt, giàu nguồn vitamin A (carotene). Cà rốt giàu dinh dưỡng, mạnh khỏe dạ dày, tiêu hóa thức ăn, ăn sống hay chín đều giúp nâng cao mức vitamin A cho người bệnh gan, có tác dụng gián tiếp phòng chống phát sinh ung thư biến chứng.


6) Xà lách

xa lach
Xà lách
Xà lách tính bình, vị ngọt, hàm chứa vitamin B, vitamin C, carotene, niacin và muối vô cơ. Thực nghiệm trên động vật cho biết, xà lách rút ngắn thời gian đông máu, có công hiệu cầm máu, thích hợp với người bệnh gan có các triệu chứng như chảy máu mũi, cháy máu răng lợi vv.

7) Cà chua

Cà chua tính bình, vị chua hơi ngọt, giàu protein, chất béo, muối vô cơ, niacin, vitamin C, vitamin B1,B2 và cả carotene, có công hiệu  thanh nhiệt, giải độc, mát máu cân bằng gan, ăn sống hay chín đều được.

8) Bí

Bí tính hơi hàn, vị ngọt, có protein, vitamin,niacin. Vỏ bí có lợi cho tiêu sưng, thịt bí hóa đờm chặn ho, thanh nhiệt chống khát đồng thời có thể giải độc của cua, cá.

bí


9) Rong biển
rong bien
Rong biển

Rong biển tính hàn, vị mặn, chứa đại lượng I ốt, vitamin, chất đạm, chất béo… có tác dụng hóa đờm tản hạch. Theo nghiên cứu, chất chiết xuất từ rong biển khống chế tiểu cầu kết tập và ô xy hóa chất béo rất tốt, đồng thời còn có tác dụng chống viêm loét.

10) Dưa chuột

Dưa chuột tính hàn, vị ngọt, giàu vitamin B1, B2, niacin, protein. Chất xơ trong dưa chuột có tác dụng thúc đẩy đường ruột đào thải độc tố và giảm cholesterol, phù hợp để chữa trị bệnh gan nhiễm mỡ.

dua chuot
Dưa chuột
Chúc các bạn có sức khỏe tốt !

Tuesday, July 2, 2013

Hay thăng hoa dễ bị ung thư "của quý"

Hay thăng hoa dễ bị ung thư "của quý"

Thử tưởng tượng xem bạn sẽ như thế nào nếu phải cắt đi “thằng bé” của mình? Chẳng ai muốn điều đó xảy ra, nhưng thực tế mỗi năm ở bệnh viện K vẫn có cả trăm ca phẫu thuật để xử lý “chỗ ấy” cho các đấng mày râu.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Thái – Phó trưởng khoa Phẫu thuật Tổng hợp – Bệnh viện K – đề cập tới 4 nguyên nhân chính khiến đàn ông khổ sở với “chỗ ấy”.
Nguyên nhân đầu tiên phải kể tới là do hẹp bao quy đầu (BQĐ). Hiện nay, Việt Nam vẫn có khoảng 40% trẻ em từ 1- 6 tuổi bị hẹp BQĐ. Đây là một trong những tác nhân lớn dẫn tới chuyện đàng ông bị ung thư “của quý” và thường rơi vào tuổi ngoài 40. Tài liệu tổng hợp từ bệnh viện K cho thấy, trong số hơn 400 bệnh nhân đã chữa trị ung thư dương vật (UTDV) thì có tới 80% rơi vào nguyên nhân do hẹp BQĐ.
Hay trăng hoa dễ bị ung thư "của quý" | Đàn ông thời nay,Tình yêu,Chuyện ấy,Quan hệ tình dục,cậu nhỏ,đàn ông trăng hoa
Ảnh minh họa
Lúc trẻ còn nhỏ thì chưa có chuyện gì xảy ra, nhưng dần dần theo quá trình phát triển, phần da thừa ở đầu dương vật sẽ giữ lại các chất cặn bã, gây ra viêm nhiễm và dẫn tới ung thư. Tiến sĩ Thái nói rằng: “Gần như 100% các trường hợp bị hẹp BQĐ sẽ gây ra UTDV cho nam giới. Vì vậy, phụ huynh cần đưa con em mình đi phẫu thuật cắt bỏ phần da thừa càng sớm càng tốt và không được để sau 8 tuổi”.
Nguyên nhân thứ hai là do vệ sịnh bộ phận sinh dục không kỹ. Với trường hợp không bị hẹp BQĐ, nếu vệ sinh “của quý” không cẩn thận và quá trình này kéo dài sẽ bị nhiễm khuẩn và UTDV.
Nguyên nhân thứ ba là dương vật bị chấn thương hoặc bị mắc bệnh do sinh hoạt tình dục như: giang mai, lậu… Nếu nam giới bị tiền sử chấn thương, bỏng, mụn nước, mụn cóc ở đầu dương vật thì đó là một trong những nguy cơ đối với ung thư dương vật. Vì vậy, khi thấy xuất hiện bất kỳ một dấu hiệu bất thường nào tại bộ phận này phải đi khám ngay để có phác đồ điều trị tốt nhất.
Nguyên nhân cuối cùng được các bác sĩ cảnh báo rằng các đấng mày râu phải đặc biệt chú ý là quan hệ tình dục bừa bãi. Theo một nghiên cứu của y học thế giới năm 1997 đã tổng kết: Một người đàn ông có hơn 30 bạn tình trong cuộc đời thì nguy cơ mắc UTDV cao gấp 3 lần người bình thường. Trong mấy thập kỷ gần đây, nhờ sự tiến bộ của sinh học phân tử, y học đã chứng minh một số loại virus gây ra khối u ở người như: Retrovirus gây bệnh bạch cầu dòng LimphoT, Hepadnavirus gây ra viêm gan siêu vi B và ung thư tế bào gan, Epstein Barrvirus gây ung thư Limpho Burkitt và Human Papilloma virus (HPV) gây u nhú trên người.
Nếu các đấng mày râu quan hệ tình dục vô tội vạ, họ rất dễ nhiễm HPV. Loại virus này sẽ làm đột biến gen của tế bào người. Đặc biệt, bộ gen HPV16, 18 có đặc điểm sinh sản vô tính mạnh, làm cho các tế bào đích bị biến dạng và phân chia tự do không chịu sự kiểm soát của cơ chế điều hòa sinh sản như các tế bào bình thường. Độ lan rộng của các tế bào vô tính này trong giai đoạn hình thành ung thư đã tạo nên tính độc lập so với tế bào gốc, và khi nó phát triển mạnh thì các khối u hình thành.
Những trường hợp bị UTDV nếu phát hiện ngay ở giai đoạn đầu, khả năng chữa thành công gần như đạt 100%. Với phương pháp này, người bệnh đương nhiên phải được phẫu thuật, cắt bỏ một phần dương vật và vẫn có khả năng sinh sản, nếu tinh hoàn còn nguyên vẹn.
Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân được điều trị bằng hóa chất và tia xạ, nhằm chống di căn và tái phát. Tuy nhiên, TS. Thái cũng cho biết: “Trong vòng 5 năm sau khi đã xử lý vùng bị ung thư, bệnh nhân không bị di căn hoặc tái phát thì coi như đã điều trị thành công. Với nền y học hiện nay thì chưa có cách nào khác là buộc phải truyền hóa chất để giúp bệnh nhân chống bị di căn hoặc tái phát. Nhưng việc điều trị bằng hóa chất và tia xạ rất độc hại với người bệnh, có thể gây ra một số phản ứng phụ là nhiễm độc máu, giảm bạch cầu, suy gan, nhiễm độc tim…”.
Đôi khi vì những yếu tố khách quan thì quả là khó tránh, nhưng vì thói trăng hoa mà phải “xử lý” chỗ ấy thì có lẽ chỉ còn nước tìm lỗ nẻ mà chui xuống.


Mẹo vặt: Tác dụng chữa bệnh của táo


Táo là loại cây ăn quả thuộc vùng nhiệt đới. Ngoài tác dụng làm thực phẩm nó còn có nhiều công dụng chữa bệnh rất tốt cho sức khỏe (trừ táo Trung Quốc)
Táo

1) Răng chắc và khỏe hơn

Khi bạn cắn ngậm răng trong trái táo đồng nghĩa với việc bạn có thể vệ sinh răng miệng. Bởi vì, trong trái táo rất giàu chất xơ khi cắn và nhai táo sẽ giúp răng chắc khỏe, làm giảm chảy máu chân răng và giảm nguy cơ gia tăng vi khuẩn trong miệng.

2) Chống lại căn bệnh Parkinson và Alzheimer

Nguyên nhân gây bệnh Parkinson là do sự thoái hóa của một nhóm các tế bào sản xuất dopamine ở não dẫn đến thiếu hụt chất này và dẫn đến run. Táo rất giàu chất xơ và chứa chất chống oxy hóa, nó giúp xây dựng, bảo vệ và chống lại sự suy thoái của dopamine. Táo còn kích thích gia tăng sự sản xuất Acetylcholine – chất kết nối các tế bào thần kinh. Vì thế, táo là lựa chọn tốt giúp tăng trí nhớ và giảm tỉ lệ mắc bệnh Alzheimer – mất trí nhớ khi về già.

3) Giảm nguy cơ bệnh tiểu đường

Các chất xơ hòa tan trong táo làm giảm lượng đường trong máu. Giúp bạn ngăn ngừa chống lại nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2, đặc biệt là ở phụ nữ. Một nghiên cứu năm 2012 được công bố trên tạp chí Dinh dưỡng Hoa Kỳ đã cho thấy: Cũng giống như quả lê và quả việt quất, táo có mối liên hệ với việc giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tiểu đường túyp 2 nhờ chất chống oxy hóa có tên Anthocyanins.


4) Ăn táo giúp chống lại bệnh tiêu chảy và táo bón

Táo chứa chất xơ hòa tan cao, một trái có trung bình có khoảng 4g chất xơ. Một phần trong số chất sơ ở dạng pectin phá vỡ các chất béo trong ruột để giảm mức độ cholesterol trong cơ thể của bạn.

5) Chống lại bệnh tiêu chảy và táo bón

Táo là một loại quả kỳ diệu giúp bạn chống lại tiêu chảy và táo bón rất hữu hiệu. Nhờ có các sợi chất xơ hấp thụ nước dư thừa từ phân để giúp bạn kiểm soát được tình trạng tiêu chảy và táo bón.

6) Giảm cân

Hầu hết các bệnh liên quan đến béo phì như suy tim và bệnh tiểu đường có thể được điều trị bằng các chất xơ trong táo. Ăn táo giữ cho cholesterol và trọng lượng của bạn trong tầm kiểm soát.

7) Tăng cường hệ thống miễn dịch

Táo rất giàu chất chống oxy hóa gọi là quercetin giúp xây dựng hệ miễn dịch và ngăn ngừa và chống lại bệnh tật. Ngoài Mỗi quả táo chứa khoảng 8mg vitamin C vì thế chúng sẽ cung cấp khoảng 14% nhu cầu vitamin C hàng ngày của cơ thể. Giúp bạn tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

8) Ngăn ngừa đục thủy tinh thể

Táo cũng rất tốt cho mắt của bạn. Nhờ rất giàu chất xơ, những người tiêu thụ chúng ít nguy cơ đục thủy tinh thể.
 9) Ngăn ngừa lão hóa và ung thư

Các nhà khoa học đã so sánh 1500mg vitamin C với 1 quả táo nhỏ, kết quả đáng ngạc nhiên là quả táo và lượng vitamin C này có lượng chất chống ôxy hóa như nhau.
Táo tươi có lượng chất chống ôxy hóa gấp 15 lần so với lượng vitamin C mỗi ngày nên dùng.
Các nghiên cứu trong ống nghiệm cũng chỉ ra rằng táo giúp ngừa sự phát triển của các tế bào ung thư gan và ung thư ruột kết. Táo nguyên vỏ có hiệu quả đặc biệt.

10) Giúp trái tim khỏe mạnh

Táo rất giàu chất xơ cho nên giảm nguy cơ cholesterol lắng trong động mạch. Màu nâu đỏ vỏ táo không cho phép các cholesterol để củng cố thêm giúp cho máu lưu thông tốt tăng cường hoạt động cho trái tim.


Wednesday, June 26, 2013

Cách sơ cứu khi bị rắn độc cắn

Kỹ năng sơ cứu khi bị rắn cắn là cần thiết đối với mỗi người. Khi bị rắn cắn thì làm thế nào nạn nhân và người thân biết đó là rắn độc hay rắn không độc?

- Trước hết xem xét triệu chứng tại chỗ như: dấu răng, phù nề, màu sắc vùng da bị cắn...

Nếu là rắn thường (rắn không độc) như: trăn, rắn nước, rắn ri cá, rắn ri voi, rắn bông súng, rắn lục cườm... thì không có tuyến nọc và không có răng độc mà chỉ có răng hàm, nên khi cắn để lại vết cắn hình vòng cung, dấu răng đều nhau hoặc để lại răng trên vết cắn.
Dấu răng của rắn không độc

Rắn độc: có răng độc (hay răng khóa). Rắn độc có hai tuyến nọc và hai răng độc, do đó khi cắn mổ từ trên xuống có hình chữ V hoặc hình chấm than song song và thường để lại hai dấu răng trên vết cắn.
Dấu răng rắn độc

Rắn độc cắn thường có hai dấu răng nhưng đôi khi cũng chỉ có một dấu răng hoặc ba, bốn dấu răng. Do đó nên khám xét kỹ, tránh bỏ sót.

- Thứ hai, dựa vào triệu chứng toàn thân. Rắn không độc cắn: phản ứng tại chỗ nhẹ, ít; phản ứng toàn thân không có. Rắn độc (rắn hổ, rắn lục): nạn nhân sẽ trào đờm, sụp mi, mờ mắt, miệng há không được, nuốt khó hoặc sưng nề, chảy máu tại chỗ, chảy máu toàn thân, nôn ra máu...

* Nạn nhân hoặc người thân cần xử trí:

- Nếu bị nhóm rắn hổ cắn:

+ Bước 1: băng ép (garô): Phải nhanh chóng buộc garô (nơi nào có thể garô được) ở phía trên vết cắn 3-5cm. Garô bằng mọi thứ dây tự có tại chỗ như: dây thun, dây chuối, dây quai nón... Chú ý khi garô phải dùng dây bản to để giảm tổn thương nơi garô.

+ Bước 2: tẩy nọc bằng cách rửa sạch vết rắn cắn, sau đó đến cơ sở y tế rửa lại bằng thuốc tím 1‰, cồn iốt 2%...

+ Bước 3: rạch rộng vết cắn hình chữ thập (+). Độ sâu qua da đến cơ chảy máu là được, rạch rộng dài khoảng 1-2cm. Trước khi rạch rộng phải sát trùng để tránh nhiễm trùng, tránh rạch đứt dây thần kinh, mạch máu và dây chằng.

+ Bước 4: hút máu tại chỗ rắn cắn.

+ Bước 5: dùng thuốc đơn giản rồi nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế mà ở đó có điều kiện cấp cứu hồi sức.

- Nếu bị nhóm rắn lục cắn:

Việc cần làm là giải quyết vấn đề đau nhức, sưng nề, xuất huyết, tán huyết, hoại tử. Do đó không cần garô, rạch rộng, hút máu. Lý do là garô sẽ làm bệnh nhân dễ hoại tử hơn, rạch rộng sẽ làm chảy máu không cầm được. Chỉ cần băng ép, tẩy nọc và chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Theo nghiên cứu , nếu nạn nhân bị nhóm rắn hổ cắn, thời gian bị cắn đến tử vong nhanh nhất khoảng 90 phút, còn các loài rắn khác chậm hơn. Do đó cần phải chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế có điều kiện cấp cứu hồi sức trước thời gian đó. Tránh đi loanh quanh ở những nơi không có điều kiện cấp cứu hồi sức và không có kháng huyết thanh đặc hiệu mà bỏ lỡ cơ hội cứu sống nạn nhân.

Một số món ăn giúp trị bệnh trĩ

Bệnh trĩ là một bệnh lý Tĩnh mạch, bị dãn quá mức không còn khả năng thu hồi điều tiết như trước kia. Nguyên nhân chủ yếu là do tăng áp lực ổ bụng ( ngồi ỉa lâu do táo bón, kiết lỵ, rối loạn tiêu hóa, ăn quá nhiều tiêu ớt chua cay, rượu bia làm dãn mạch máu, ngồi xổm quá lâu, mặc quần áo chật bó sát người, chửa đẻ....).

Những biểu hiện trong lâm sàng là: Viêm sưng trĩ và bệnh trĩ, phân thối, đại tiện khó, mồm đắng mồm khô, tức ngực, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, rêu lưỡi dầy, mạch huyền, mạch trơn.
Một số món ăn dưới đây sẽ giúp bạn cải thiện tình trạng bệnh của mình.

1) Cháo rau cần:

Nguyên liệu: Rau cần cả lá lẫn rễ 120 gam, gạo lốc 150 gam.
Phối chế: Rửa sạch rau cần, thái dạng khúc dài 1 cen-ti-mét. Gạo lốc với lượng nước vừa phải, đun sôi bằng lửa to, cho rau cần vào cùng nấu bằng lửa nhỏ cho đến cháo chín nhừ, cho thêm gia vị là có thể dùng.
Công hiệu: Thanh nhiệt lợi thấp.



2) Khổ sâm nấu trứng gà:
Nguyên liệu: Khổ Sâm 6 gam, trứng gà 2 quả, đường đỏ 60 gam.
Phối chế: Khổ Sâm đun với 400 mi-li-lít nước trong khoảng 30 phút, lọc bã lấy nước, cho trứng gà và đường đỏ vào cùng đun với nước sâm cho đến trứng gà chín là được.
Công hiệu: Thanh nhiệt giải độc, thấm thấp trị ngứa ngáy. trị bệnh trĩ

Cách dùng và liều lượng: Bóc vỏ trứng gà khi còn nóng, một lần ăn hết trứng gà và nước sâm. Mỗi ngày một lần, 4 ngày là một đợt điều trị.
Chứng nhiệt bức huyết hành với những biểu hiện trong lâm sàng là: bệnh trĩ, hậu môn nóng rát, đại tiện ra máu tươi kèm theo phát sốt, táo bón, nước tiểu ngắn, màu đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc vàng khô.

3) Hoa Hòe – ruột lợn:
Nguyên liệu: Ruột lợn dài khoảng 30 cen-ti-mét, hoa Hòe 20 gam.
Phối chế: Rửa sạch ruột lợn, nhét hoa Hòe vào ruột Chứng thấp nhiệt ứ trệ với những biểu hiện trong lâm sàng là: Viêm sưng trĩ và đau trĩ, phân thối, đại tiện khó, mồm đắng mồm khô, tức ngực, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, rêu lưỡi dầy, mạch huyền, mạch trơn.

4) Củ̉ rau dền ninh ruột lợn:
Nguyên liệu: Củ lợn, lấy dây buộc chặt hai đầu, lượng nước vừa phải ninh đến chín nhừ, cho thêm gia vị là được.

Công hiệu: Thanh nhiệt mát máu cầm máu.
Cách dùng và liều lượng: Ăn ruột lợn và uống canh.
Chứng khí huyết suy nhược với những biểu hiện trong lâm sàng là: Lòi trĩ, đại tiện ra máu nhợt, mặt xanh không hồng hào, choáng đầu, tim đập nhanh, mệt lả, chất lưỡi nhợt, mạch yếu.

5) Chè Nhân Sâm-hạt Sen-đường phèn:
Nguyên liệu: Nhân Sâm trắng 10 gam, hạt Sen 15 gam, đường phèn 30 gam.
Phối chế: Cho Nhân Sâm và hạt Sen bỏ tâm Sen lên bát, ngâm với lượng nước vừa phải cho đến nở, cho thêm đường phèn hấp khoảng 1 tiếng đồng hồ là được.
Công hiệu: Ích khí kiện tỳ.


6) Cháo Hoàng Kỳ:
Nguyên liệu: Hoàng Kỳ 30 gam, gạo lốc 100 gam.
Phối chế: Thái Hoàng Kỳ thành dạng nhát, cho 1000 mi-li-lít nước sắc còn lại 750 mi-li-lít, lọc bã, cho gạo lốc vào nấu cháo.

Công hiệu: Ích khí nâng khí.

Tất cả các món trên thường được dùng vào bữa sáng và tối !