Friday, May 31, 2013

Cách chế biến món nướng an toàn- Mẹo làm món nướng ngon nhất

Cách làm cho than không bùng lửa và thịt không bị cháy sém
 Khi nướn thịt ta thường thấy lửa bùng cháy và cháy sém thịt. Để không bị bùng lửa hoặc cháy sém khi nướng ta có thể làm theo cách sau:
- Cắt bỏ hết phần mỡ mà ta nhìn thấy của miếng thịt trước khi đưa vào vỉ nướng bởi vì khi nướng mỡ sẽ tan chảy và khi tiếp xúc với lửa nó sẽ cháy gây cháy sém miếng thịt nướng.
-Khi than đã nóng, ta dồn than ra cạnh ngoài của vỉ nhưng vẫn để thịt ở giữa của vỉ nướng này. Bằng cách như vậy vẫn giữ được nhiệt độ nhưng nếu có thứ gì nhỏ giọt xuống cũng không nhỏ vào than. Trở thịt thường xuyên để thịt không bị cháy, giữ thịt cách nguồn nhiệt khoảng 15cm-20c. 
- Một cách khác để thịt không bị cháy sém là gói vỉ nướng (hoặc thịt) bằng giấy nhôm để ngọn lửa không thể tiếp xúc với thịt.

Dùng nước sốt ướp thịt
Nước sốt giúp cho thực phẩm ngon hơn và nhiều dinh dưỡng hơn. Không những thế, nếu dùng nước sốt đúng cách ta có thể tránh được nhưungx chất có hại cho sức khỏe khi nướng.
Ta nên ướp thịt tối thiểu 30 phút có thể giảm số lượng hợp chất HCAs hình thành trên thịt. Ngoài ra nước sốt cây hương thảo đặc biệt hiệu quả. Nước sốt chanh và giấm cũng rất có tác dụng. Nhưng cũng nên cẩn thận với các loại nước sốt sệt và ngọt vì chúng dễ bị cháy, khiến thịt cũng bị ảnh hưởng.
Làm thịt chín trước khi nướng
Ta nên làm chín thịt trên bếp hoặc trong lò vi sóng trước khi nướng. Như vậy, bạn vẫn có được hương vị hấp dẫn của món nướng, đồng thời thịt tiếp xúc với các điều kiện nguy hiểm tiềm tàng trong thời gian ngắn hơn. (Lưu ý là bạn nên nhanh chóng đưa thịt từ bếp hoặc lò vi sóng lên vỉ nướng để vi khuẩn không có thời gian phát triển).
Chọn loại thực phẩm ít mỡ để nướng.

Thịt gà hoặc cá có ít mỡ, thịt được cắt nhỏ sẽ giảm thời gian nướng. Giải pháp an toàn hơn nữa là nướng các loại rau củ quả. Vì chúng không chứa các thành phần của thịt động vật nên không có nguy cơ hình thành HCAs và PAHs. Hơn nữa, hương vị của chúng cũng rất ngon !

Chúc các bạn ngon miệng !


Mẹo chọn ngao, sò, ốc ngon- Cách chọn ngao, sò, ốc ngon nhất

1) Cách chọn sò huyết
Sò huyết là một loại hải sản bổ dưỡng và cũng là món ăn khoái khẩu của nhiều người, đặc biệt là dùng kèm trong món lẩu. Tuy nhiên, để chọn mua được sò tươi, ngon không phải dễ dàng. Thậm chí nhiều người khi đi mua sò thì cứ thấy con to là chọn nhưng thực tế những con như thế chưa chắc đã ngon hơn những con nhỏĐây là một số đặc điểm cần lưu ý
Sò huyết ngon là con phải lớn vừa ăn, không quá to cũng không quá nhỏ. Con nhỏ quá khi chế biến sẽ bị teo ngắt lại (nhất là nướng sò, con nhỏ quá thịt teo lại chẳng còn được là bao), còn con lớn dễ bị dai. 
Sò huyết

- Muốn lựa sò còn tươi, chị em chú ý những rổ sò có nhiều con sò thò lưỡi ra ngoài là lứa sò đó còn tươi sống.
- Nếu có thời gian bạn nên lựa từng con. Nếu sò ngậm miệng, chị em vẫn có thể biết được sò sống hay chết bằng cách ngửi sò, nếu có mùi hôi thì tuyệt đối không mua !
2) Ngao 
Khi mua ngao, ta nên chọn những con vỏ còn cứng và đóng chặt miệng. Dùng tay tách thử vỏ ngao, nếu có thể dễ dàng tách chúng ra tức là ngao chết. Cũng có những con ngao còn sống mà miệng của chúng lại mở ra. Lúc này, dùng tay chạm vào chúng, nếu thấy ngao di chuyển hoặc miệng khép lại, tức là ngao còn tươi sống.
Ngao
 3) Chọn Ốc
Ốc ngon có mày nằm sát bên ngoài, khi ta đụng tay vào, mày khép lại. Ngược lại, mày thụt sâu vào trong là ốc không ngon. Ốc chết có mùi rất khó chịu.

4) Cách làm sạch ngao, sò, ốc
Với ngao, sò:
- Mua ngao, sò về sau khi rửa sạch bên ngoài, chị em pha thêm một chậu nước muối nhạt có độ mặn như nước biển. Xắt khoảng 2 quả ớt bỏ vào chậu nước sau đó bỏ sò, ngao vào ngâm. Ngâm độ 1-2 tiếng, sò và ngao sẽ nhả hết bùn cát ra.

Với ốc:
- Đối với ốc, chị em có thể làm sạch bùn bằng cách: Ngâm ốc trong một chậu kim loại có chứa ít nước và thả một số đồ dùng bằng kim loại vào như: dao thái rau, thìa, đũa, dĩa… vào khoảng chừng 2-3 tiếng, khi ốc ngửi phải các đồ dùng bằng kim loại này chúng sẽ nhả bùn ra rất nhanh và sạch.

- Hoặc sử dụng nước vo gạo ngâm ốc mua từ chợ về (hoặc được bắt từ dưới sông lên) khoảng 1-2 tiếng, tất cả chất bùn trong miệng ốc sẽ tự động nhả ra và vón thành từng mảng chất nhầy, sau đó chị em chỉ cần rửa lại với nước sạch và chế biến bình thường.
- Ngoài ra với những loại sò lớn như: sò dương, sò điệp, ốc đỏ… chị em nên tách sò ra rửa sạch rồi mới cho lại vào vỏ để chế biến.
Xem thêm tại: món ngon miền bắc | món ngon miền nam | món ngon miền trung



Cách ướp nước sốt với đồ nướng - Mẹo ướp gia vị đồ nướng


Những cách dưới đây sẽ giúp cho món thịt nướng của bạn thơm ngon hơn rất nhiều với gia vị là nước sốt.

Nước sốt pha sẵn

Các loại này thường bán phổ biến ở các siêu thị. Nó được người dùng ưa chuộng vì tính tiện dụng cao. Loại nước sốt thường được pha chế từ đường và các gia vị khác để tạo ra mùi vị đặc biệt. Đường sẽ làm món nướng thêm dịu ngọt nhưng ta cần chú ý như sau: đường rất dễ cháy gây ra vị đắng và ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe. Do vậy khi sử dụng cần chú ý để tránh gây hại cho sức khỏe


Nước sốt hợp vệ sinh

Nếu bạn muốn để dành một ít nước sốt tưới lên thịt khi dọn ăn thì phải nhớ để riêng trước khi phết lên thịt sống. Hoặc nếu bạn lỡ quên, nên đun sôi nước sốt còn lại để bảo đảm vệ sinh. 



Khi nào tưới nước sốt?

Nước sốt nhiều đường có thể làm cháy lớp ngoài của thịt rất nhanh trước khi thịt chín. Vì vậy, nên nướng thịt trước 5 đến 10 phút rồi mới phết nước sốt. Nếu không có cọ lông chuyên dùng phết nước sốt lên món nướng có thể thay bằng cụm lá chuối hoặc thân củ hành tươi.

Vị ngọt của nước sốt thường được chế từ đường trắng, đường nâu, mật ong, mật mía, mật bắp, đường hóa học fructose, mứt dẻo, nước ép trái cây và nước sốt cà chua.


Nguồn: Internet
Xem thêm tại: món ngon miền bắc | món ngon miền nam | món ngon miền trung

Giới thiệu các món lẩu Việt ngon

Tùy vào mỗi vùng miền, mỗi văn hóa, tính cách con người mà văn hóa ẩm thực có sự đa dạng đặc trưng riêng. Do nước ta có khí hậu nhiệt đới, rau của quả và các loại thức ăn đa dạng nên ẩm thực cũng rất đa dạng. Sự đa dạng về ẩm thực, tính cách con người Việt nam được thể hiện một phần qua món lẩu. Lẩu là món ăn phổ biến của người Việt nam từ Bắc tới Nam. 

Mặc dù lẩu không phải là món ăn truyền thống của Việt Nam như phở, bún, hay cốm, bánh trưng hoặc bánh tẻ... nhưng  nguyên liệu, cách chế biến cách thưởng thức món ăn này đều được biến rất đa dạng và sáng tạo để phù hợp với đặc tính khí hậu, văn hóa đất nước và con người Việt Nam qua từng vùng miền
Lẩu bò

Ta đã biết Việt Nam là một nước nông nghiệp , với khí hậu nhiệt đới. Chúng ta có rất nhiều loại rau nhiệt đới cũng như đa dạng các loại thịt bổ dưỡng mà lại ngon. Hơn nữa, các món lẩu còn có sự kết hợp của nhiều loại rau ghém, rau sống ăn kèm. Chính do sự đa dạng của các loại rau đã mang đến hương vị ngon ngọt và mát khi ăn kèm với các thực phẩm khác. Ngoài rau, lẩu còn hấp dẫn bởi vị ngọt thơm của các loại thịt, cá, tôm, ốc và phần ăn kèm theo như miến, mì trứng, bún gạo, mì tôm…
Lẩu cá
Trước khi món lẩu du nhập vào nước ta, người Việt cũng đã có thói quen thưởng thức món ăn nóng từ mì,  miến,... ăn kèm rau và nước dùng ngọt như món: phở, bún hay món hẩu lốn... Có lẽ vì thế mà nhiều nguồn tài liệu cho rằng, lẩu là món ăn có nguồn gốc và là sự sáng tạo về cách chế biến, cách thưởng từ món hẩu lốn (hay một loại mì nước nào đó).
Tuy nhiên, với nhiều loại gia vị, rau, nấm, măng, khoai môn, thịt, thủy hải sản và các dạng nước dùng chuyên biệt, lẩu được người Việt ta ưa chuộng và ngày càng phát triển đa dạng hơn rất nhiều. Qua thời gian, vẫn là kiểu chế biến và phong thái thưởng thức như ban đầu, nhưng lẩu đã từng bước đa dạng hơn về hương vị cũng như nguyên liệu để chế biến cho từng món.
Lẩu hải sản

Kinh tế phát triển cũng kéo theo sự thay đổi khẩu vị của mỗi người, các món lẩu vì thế cũng được cải biến hơn cho phù hợp. Khi mới ra đời, phổ biến nhất là các món lẩu thủy hải sản, đặc biệt là lẩu cá, lẩu cua, tôm, mực,... Ngày nay, có rất nhiều món lẩu mới là sự kết hợp từ những nguyên liệu thịt “sang” hơn như lẩu bò, lẩu mắm, lẩu hoa xuân... 
Lẩu vịt om sấu

Lại nói đến cung cách thưởng thức, vào mỗi dịp gia đình, bạn bè đoàn tụ, có lẽ người ta sẽ nghĩ đến món lẩu trước tiên. Món lẩu rất được ưa thích vào mùa đông bởi nó đem lại không khí vừa ấm bụng vừa phù hợp để ngồi quây quần đông người. Cả gia đình, người thân, bạn bè bên nồi lẩu đang nóng hổi, nghi ngút khói, cùng nhau thưởng thức những miếng thịt, món rau vừa chín tới, hay bát nước dùng đủ các vị ngon ngọt, đậm đà, chua cay... Không khí ấy, cách thưởng thức ấy dường như đã khiến món lẩu thêm hấp dẫn với người Việt Nam hay cũng là để dân ta giới thiệu với các bạn nước ngoài về nét đẹp, sự phong phú trong văn hóa ẩm thực Việt.
Lẩu cua
Ẩm thực Việt Nam còn coi trọng yếu tố bổ dưỡng, vì vậy việc chế biến các món ăn từ nguyên liệu tươi sống cũng là một yếu tố khiến món lẩu vừa ngon lại vừa bổ. Những kết hợp từ thịt gà ngải cứu (giúp giải nhiệt cơ thể), lẩu nấm (tăng cường miễn dịch, giải độc)... là một minh chứng rất chính xác và cụ thể về việc chế biến món ăn như những bài thuốc có lợi cho sức khỏe.
Lẩu mắm nam bộ

Tuy cùng mang những đặc trưng chung của ẩm thực Việt nhưng mỗi miền trên đất nước ta lại mang có những loại lẩu mang hương vị đặc trưng của vùng miền đó. Người Bắc thường chuộng các loại lẩu vịt, lẩu nấm...miền Nam lại nổi bật với lẩu cá kèo, lẩu mắm; miền Trung phổ biến nhất với các loại lẩu hải sản.
Lẩu cá kèo

Việt Nam có rất nhiều món ăn truyền thống thể hiện nét đẹp trong đời sống văn hóa  ẩm thực cũng như vẻ đẹp tâm hồn người Việt.
 Chúc các bạn ngon miệng !
Xem thêm tại: món ngon miền bắc | món ngon miền nam | món ngon miền trung

Cách nấu cá rô đồng- Cách làm cá rô kho tộ ngon

Chỉ với những con cá rô đồng và một số gia vị phụ gia khác dễ kiếm, ta đã có thể chế biến được món cá rô kho tộ thơm ngon cho bữa cơm hàng ngày của gia đình.

Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu:
- 300 g cá rô lựa loại vừa nhưng tốt nhất là chọn loại mập và dày thịt
- Gia vị gốm có: Tiêu, muối, đường, bột ngọt, tỏi, dầu ăn, nước mắm.

Bước 2: Cách làm như sau:
- Cá rô, rửa sạch, đánh sạch vảy,sau đó khứa vài đường trên mình cá cho nó dễ thấm gia vị, để ráo, ướp khoảng: 1 thìa cà phê tiêu, 2 thìa cà phê bột ngọt, 1 thìa súp tỏi băm, 2 thìa súp nước mắm, tỏi băm nh.
 Đợi khoảng 30 phút cho cá thấm đều gia v

- Nồi đất để nóng cho 2 thìa súp dầu, 2 thìa súp đường quậy tan, để lửa vừa phải. Đường ngả màu vàng cho cá vào đảo nhanh tay và trở đều.
- Cho nước lạnh ngập mặt, để lửa riu riu. Khoảng 15 - 20 phút sau thì cá chín, lúc này nó có màu vàng nâu, nước cá sâm sấp, kẹo lại. Nêm lại và bỏ thêm gai vị cho vừa ăn, có thể thêm tiêu, ớt cho thơm.
 Chúc các bạn ngon miệng !
Xem thêm tại: món ngon miền bắc | món ngon miền nam | món ngon miền trung

Đặc sản rượu Mông Pê của Điện Biên Phủ

“Mông pê”- theo tiếng phổ thông dịch ra nghĩa là “người Mông ta”. Tức là Rượu Mông Pê nghĩa là rượu của người Mông ta. Tuy mang cái tên như vậy nhung loại rượu này chủ yếu được sản xuất  bởi đồng bào Mông Tủa Chùa, Điện Biên và chỉ có ở Tủa Chùa mới nấu được thứ rượu này.


Tủa Chùa là vùng đất được coi là "tiểu Hà Giang" của Việt Nam. Nó có tới 70% diện tích đất tự nhiên là núi đá vôi và khoảng 80% dân số là người Mông. Trước đây, khu vực này không chỉ nổi tiếng là căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến, mà còn nổi tiếng bởi đặc sản nhậu như rượu và dê. Người Điện Biên hầu như ai cũng biết đến câu "Rượu Mông Pê, dê Tủa Chùa". Người Mông Tủa Chùa thật thà, giản dị, hiếu khách. Mỗi khi có khách đến nhà, dù lạ hay quen, chủ nhà đều mang rượu ra mời. Chỉ cần nhấp môi giọt rượu đầu tiên là ta đã cảm nhận thấy hương vị hoang dã của núi rừng miền Bắc, sự nồng hậu của chủ nhân làm ra nó.

 




 Rượu Mông Pê có màu vàng như mật ong, có hương vị đặc trưng của ngô được trồng trên đá hòa trộn với mùi hương của cây lá, núi rừng, là loại rượu có nồng độ cao, uống bốc, nhanh say, nhưng ta vẫn có cảm giác dịu êm. Để có được thứ rượu thơm ngon này là cả một quy trình rất công phu, người nấu phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn nước, ngô, men, dụng cụ nấu, cộng với kinh nghiệm gia truyền và tâm huyết bỏ vào sản phẩm.


Nguyên liệu để làm Rượu Mông Pê được nấu từ những hạt ngô nếp đầu mùa, hạt ngô phải đều tăm tắp. Đặc biệt là khi nấu cơm ngô thì không không theo cách thông thường mà sử dụng phương pháp hấp cách thủy, thời gian hấp khoảng chừng 5 đến 6 giờ trên bếp củi. Khi hạt ngô nở, người ta tãi ra trên lá, hoặc nong, nia chờ nguội mới rắc men. Men được làm từ loại thảo dược của núi rừng, có vị phòng chống lạnh, trừ cảm, có vị làm cho lưu thông khí huyết, giảm đau nhức khớp, có vị làm cho uống bao nhiêu cũng chẳng đau đầu. Theo như tập quán trước đây, trong gia đình người Mông Tủa Chùa, bí quyết lấy cây thuốc làm men, nấu rượu chỉ truyền cho con gái. Có lẽ xuất phát từ thực tế là người phụ nữ Mông đảm trách chủ yếu công việc bếp núc của gia đình. Việc ủ rượu cũng không giống so với việc nấu rượu thủ công ở những nơi khác. Dụng cụ ủ không phải là vại, chum mà ủ trong các hố dưới lòng đất. Chiếc hố ủ rượu sâu khoảng 0,5-0,8m, được nện chặt, lót lá chuối xung quanh, sau khi đổ nguyên liệu vào lót thêm một lớp lá chuối trên cùng và phủ đất lên. Đúng quy trình rượu phải được ủ ít nhất là 100 ngày mới được đem ra nấu. Theo các cụ già nếu ủ càng lâu, rượu nấu sẽ càng ngon. Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả.


Nước để chưng cất rượu Mông Pê cũng là thứ nước không thể lấy từ sông và suối, và càng không thể là thứ nước máy công nghiệp, mà phải là thứ nước được các cô gái Mông kiên nhẫn hứng từng giọt từ những khe trên núi đá. Để đủ nước nấu một mẻ rượu có khi phải hứng nước cả ngày. Rượu nấu trong nồi lớn, dụng cụ chưng cất toàn bằng tre nứa gỗ, không dùng đồ kim loại. Có lẽ vì thế mà rượu Mông Pê khi chưng cất lên không bao giờ mất được hương vị đặc trưng của nó.

Từ bao đời nay,  rượu Mông Pê trên cao nguyên đá Tủa Chùa được sản xuất chủ yếu ở khu vực phía Bắc huyện như: Sính Phình, Tả Phìn, Lao Xả Phình, Tả Sìn Thàng, Sín Chải. Mục đích nấu chỉ để gia đình uống và đãi khách nên số lượng sản xuất ra rất ít. Ngày nay, rượu Mông Pê được nhiều người ưa thích, mà số lượng cũng chẳng nhiều hơn, nên trở thành của hiếm.

Vào mùa Xuân bạn lên với Tủa Chùa, hòa mình trong cái se lạnh của miền cao nguyên đá, trong dòng chảy của mùa xuân vùng sơn cước, bạn sẽ được nghe những điệu khèn da diết, thưởng thức món canh đắng, thịt lợn muối, bát thắng cố nóng hổi và uống những bát rượu Mông Pê sóng sánh, nồng nàn...

Sunday, May 19, 2013

Món ngon tôm xào ngũ sắc đơn giản dễ làm

Món ngon tôm xào ngũ sắc đơn giản dễ làm
Món ăn bắt mắt với 5 màu sắc của rau củ và nổi bật vị ngọt của tôm.

Nguyên liệu
- 200g tôm
- Nửa quả ớt Đà Lạt
- 1 củ cà rốt
- 1 quả dưa chuột
- Nửa củ hành tây
- Vài tai nấm hương
- 1 củ tỏi , gia vị, hạt nêm.
am thuc, tap chi am thuc, mon ngon, an ngon
Chế biến
- Tôm bóc vỏ, lấy chỉ lưng, để lại phần đuôi cho đẹp, ướp với chút hạt nêm. Ớt ngọt bỏ hạt thái quân cờ, cà rốt bổ đôi thái miếng xéo dày 3mm, dưa chuột bổ đôi nạo bỏ ruột, thái miếng xéo dày 5mm, hành tây lột vỏ bổ múi cau. Nấm hương ngâm nở, cắt chân, rửa sạch.
- Ớt ngọt, cà rốt, dưa chuột chần qua nước sôi.
- Phi thơm tỏi cho tôm vào xào săn rồi trút ra đĩa. Thêm dầu ăn, cho cà rốt vào xào đến khi chín tới rồi cho nấm, ớt ngọt, dưa chuột vào đảo đều, cuối cùng cho hành tây, tôm vào. Nêm nếm gia vị, hạt nêm vừa ăn, rắc hạt tiêu, trút ra dùng nóng.
Nguyên liệu chuẩn bị món ăn.
Nguyên liệu chuẩn bị món ăn.
Tôm sau khi sơ chế qua.
Tôm sau khi sơ chế qua.
Xào săn tôm.
Xào săn tôm.
Cho các loại rau củ vào.
Các loại rau củ xào cùng tôm.

>> Tìm hiểu thêm : nau an, am thuc, nấu ănẩm thực
Sắc màu của rau củ giúp món ăn ngon hơn.
Sắc màu của rau củ giúp món ăn đẹp mắt hơn.
Xem thêm tại: món ngon miền bắc | món ngon miền nam | món ngon miền trung

Sunday, May 5, 2013

Những đặc sản nổi tiếng tại Huế

Có những món ăn đơn giản đến mức không thể nào đơn giản hơn được nữa, ấy vậy mà nó trở thành đặc sản của một địa phương. Dù đi đâu, xa quê bao lâu người ta vẫn nhớ đến.
Cơm hến 


Cơm hến là món ăn dân dã, nghèo mà vẫn sang, đậm đà hương vị. Cơm cồn hến người ta còn cho nó cái tên sang trọng: "Cao lâu cồn" để tôn vinh cái giản dị, mộc mạc, thanh đạm mang đầy chất Huế. 
Cơm hến là món ăn cay, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi. Cơm của cơm hến là cơm nguội, mùi ruốc mặn nồng thơm nức mũi, vị chua thanh của khế, mùi thơm ngây ngất của rau thơm, chuối bắp, bạc hà, vị ngọt đằm thắm của nước hến, béo ngậy của tóp mỡ, vị cay đến xé lưỡi, đến phỏng miệng của ớt tương... Người ăn cơm hến đôi lúc vẫn chưa vừa lòng với món ớt tương cay nồng sẵn có, còn cắn thêm trái ớt tươi, kêu cái "bụp!" rồi xì xụp, xuýt xoa hít hà cho nước mắt nhỏ giọt, mới thấm thía được cái ngon cơm hến. Thế nên, có người còn gọi là "món ngon trời hành". 
Các thôn nữ đội nón lá mỗi sáng gánh cơm hến đi khắp các ngả đường cất tiếng rao lanh lảnh ngọt ngào "hến khô... ông" là hình ảnh và âm điệu không thể nào quên của những người xa Huế.
Vả Huế 
Vả là món ăn dân dã của Huế và vả cũng trở thành món ăn thượng lưu của du khách khi đến Huế. Vả đã để lại trong lòng người xa quê nỗi nhớ quê nhà.
Thiên nhiên dành cho Huế một loài cây thuộc họ sung nhưng trái lớn, đó là cây vả. Vả cho trái ăn vừa ngọt vừa bùi. Vả tạo thêm hương vị đậm đà ngon miệng cho các món ăn từ xào, nấu, kho cho đến ăn sống. 

Món rau sống kèm với những món ăn như bún thịt nướng, bún thịt kẹp tôm chua, bánh khoái, thịt bò nhúng dấm... thì vùng miền nào cũng như nhau, nhưng ở đây kẹp với miếng vả trắng hồng chấm với mắm nêm trộn với ớt xanh vừa giòn vừa cay đến độ hít hà thì không gì ngon bằng.
Đặc biệt là món vả trộn. Để có món vả trộn xúc ăn với bánh tráng, luộc vả trong nước sôi cho đến lúc nào có thể dùng tay chà bóc lớp vỏ xanh, xong cho vào nồi luộc tiếp cho thật nhừ, bóp tơi quả vả cho thật nhuyển. Mè đem rang vàng chà vỏ, thịt nạc và da heo luộc chín xắt hạt lựu, ướp gia vị nước mắm, hành tiêu, bột ngọt, muối, ớt bột... Các thứ trên trộn đều thành hỗn hợp, thái nhỏ rau thơm, hành, ngò rải trên mặt. Vả trộn ăn với bánh tráng (bánh đa) nướng.
Chưa dừng ở món vả trộn, vả còn cho vào kho chung với thịt heo, thịt bò nhưng hấp dẫn hơn cả là vả kho với cá rô, cá nục, cá ngừ...
Bún bò giò heo 



Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Bún thì không đâu không có, nhưng hình thức của con bún thì mỗi miền mỗi khác. Ở Hà Nội, xưa và nay cũng la liệt bún "bún riêu, bún chả, bún ốc, bún thang…" mà có lẽ đặc biệt nhất là bún chả, sợi bún rất mảnh lại cuộn từng lá mỏng, còn chả thì là thịt ba chỉ cặp vào thanh tre rồi đem nướng trên than hoa, chẳng khác gì bún thịt nướng ở Huế nhưng ngon hơn nhờ nước chấm và rau húng. Ở Huế cũng thế, có bún giò heo.
Dọc hai bên đường bạn sẽ gặp ngay ở đây những gánh bún rất bình dân nhưng cũng rất ngon, rất đông khách… Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng và được người thợ gò xứ Huế gò rất khéo, trông giống một chiếc nồi đồng ngày xưa nhưng sâu và miệng rộng hơn. Cái nồi được chùi rửa kỳ cọ rất kỹ nên bao giờ cũng sáng trắng, trông rất thích mắt. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong nổi bật trên đó là những viên mọc hồng (được viên từ giò sống và thịt cua), những miếng móng giò được ninh mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng rá và màu xanh của rau sống, húp một ít nước beo béo đậm đà kèm theo một chút gia vị mắm ớt chanh bạn sẽ thấy vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xuýt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt chạy dần vào trong thực quản, chắc chắn bạn sẽ không quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Bánh bèo xứ Huế 



Không biết có từ bao giờ, nhưng bánh bèo đã là một đặc sản, một món ăn không thể thiếu của người dân xứ Huế. Bánh bèo có mặt từ mâm cơm dân dã ở mỗi gia đình cho đến các bữa tiệc, ngày lễ, ngày Tết và các dịp đãi khách trọng thể. 
Có dịp đến Huế, mới thấy bánh bèo gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân cố đô như thế nào. Khoảng từ 3 đến 5 giờ chiều, đâu đó trên các ngõ phố những phụ nữ gọn gàng trong bộ áo dài thong thả bách bộ với quanh gánh nhẹ trên vai hoặc chiếc thúng nhỏ cắp ngang hông, đi bán bánh bèo, bánh lọc đến từng nhà. Người Huế rất thích và đã thành thói quen dùng loại bánh đầy hương vị quê nhà này vào các bữa ăn phụ, chỉ cần 1.000 đồng là đã có một đĩa bánh bèo lót dạ thơm ngon. Bánh bèo cũng không thiếu trong các bữa "cơm vua" phục vụ khách du lịch và trong các bữa tiệc "cơm cung đình" chiêu đãi các khách quý. 
Từ khi quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO xếp loại là di sản thế giới, khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế ngày càng đông. Vì vậy, song song với kiểu kinh doanh "cơm vua" trong các khách sạn, nhà hàng... ở Huế bây giờ còn mọc lên nhiều "phố bánh bèo" quanh cung An Định, đường Ngự Bình, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm... Những "phố bánh bèo" này, thực khách không chỉ là dân Huế mà phần đông là khách từ phương xa đến. Quả thật, ai có dịp đến Huế cũng đều muốn thưởng thức món bánh bèo - một món đặc sản của đất cố đô.
Bánh khoái 



Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống. Khuôn bánh khoái làm bằng gang hình tròn, to bằng hai bàn tay trẻ con có cán cầm. Khi nào có khách ăn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Múc một muôi bột trứng đổ vào khuôn nóng đã tráng mỡ. Tiếng bột bén mỡ xèo xèo bốc lên quyến rũ, bột chín vàng rơm thì gắp một miếng thịt bò nướng, lát mỡ nhỏ, một vài con tôm, ít giá bỏ vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt lật bánh cho vàng đều hai bên, xong bày ra đĩa.
Bánh ngon một phần nhờ nước lèo, thứ nước chấm chỉ các đầu bếp giỏi mới chế được. Ðây là bí quyết gia truyền, quyết định chất lượng, tạo nên hương vị thượng hạng của bánh khoái. Nước lèo Huế được chế biến rất cầu kỳ với hàng chục nguyên liệu như bột báng, gan lợn, mè (vừng), lạc rang... Quán bánh khoái Thượng Tứ tồn tại gần ba bốn chục năm nay, đã trở thành văn hoá ẩm thực Huế, làm say lòng du khách, thân thuộc với người Cố Ðô chẳng khác gì cơm hến, tiếng chuông chùa Thiên Mụ, con đò sông Hương. Vâng, đó chính là một phần văn hóa Huế.
Xem thêm tại: món ngon miền bắc | món ngon miền nam | món ngon miền trung